THE LAST GIFT
tiểu thuyết của Abdulrazak Gurnah – giải Nobel Văn chương 2021
(Bút Lông Kim dịch từ nguyên bản tiếng Anh)
Chương 1: MỘT NGÀY NỌ
Một ngày nọ, rất lâu trước những sự rắc rối, ông đã trượt xa khỏi với không một lời nơi bất cứ ai và chẳng bao giờ đã quay lui. Và rồi một ngày khác, bốn mươi ba niên sau đó, ông đã ngã quỵ ngay bên trong cánh cửa trước của ngôi nhà mình ở một thị trấn bé nhỏ ở Anh quốc. Chuyện xảy ra vào lúc xế muộn trong ngày, trở về nhà sau giờ làm việc, nhưng cũng là xế muộn trong ngày. Ông đã bỏ lại mọi chuyện quá lâu rồi và không có ai để trách móc ngoài chính ông.
Ông cảm thấy nó đang đến, cái sự ngã quỵ. Không phải với cái nỗi rụng rời của sự đổ nát đã đeo bám ông dài lâu như ông có thể lưu nhớ, mà với một cảm giác rằng một cái gì đó có chủ ý và rắn chắc đang đều đặn giáng xuống ông. Đó không phải là một sự giáng đánh xuất phát từ hư không, nhiều hơn giống như con thú vật đã từ từ quay đầu hướng về ông, đã nhận ra ông và khi ấy đã vươn ra để bóp ngạt ông. Những điều suy nghĩ của ông là sáng rõ khi sự yếu đuối rút cạn thân thể của ông, và trong sự sáng rõ đó thì ông suy nghĩ, một cách ngớ ngẩn, rằng đây phải là những gì nó cảm giác giống như chết đói hoặc chết cóng hoặc bị một hòn đá đè ép cái hơi thở ra khỏi thân thể. Sự so sánh đã khiến ông nhăn mặt bất chấp sự lo lắng: hãy xem lời cường điệu gì mà sự bị gây mệt mỏi có thể khiến xui?
Ông mệt mỏi khi rời khỏi công việc, với kiểu mệt mỏi đó mà đôi khi ập đến với ông một cách khó giải thích vào cuối ngày, nhiều hơn trong những niên gần đây so với trước kia, và điều đó khiến ông ao ước ông có thể ngồi xuống và không làm gì cho đến khi sự kiệt sức đã qua đi, hoặc cho đến khi những cánh tay mạnh mẽ đến nhấc ông lên và đưa ông về nhà. Ông bây giờ có tuổi, đang trở nên có tuổi, ít ra như thế. Cái điều ao ước là giống như một kỉ niệm, như thể ông lưu nhớ ai đó đang làm điều đó cách đây rất lâu – nhấc ông lên và đưa ông về nhà. Nhưng ông chẳng nghĩ đó là một kỉ niệm. Ông càng có tuổi thì những ao ước của ông đôi lúc càng giống như trẻ con. Ông càng sống lâu thì tuổi thơ của ông càng kéo gần nơi ông, và nó dường như dần dần ít giống như một điều mộng tưởng xa xôi của cuộc sống một người nào khác.
Trên xe buýt, ông cố thử để tìm ra nguyên nhân của sự mệt nhọc của ông. Ông vẫn làm điều đó sau ngần ấy niên, cố thử để cảm thức các thứ, trông tìm những lời giải thích mà có thể làm giảm bớt nỗi sợ hãi của những gì cuộc sống cho phép xảy ra. Vào cuối mỗi ngày, ông hồi truy các bước của mình cho đến khi ông tìm thấy sự kết hợp đúng đắn của những điều bất hạnh đã bỏ lại ông tàn rũ như thế vào lúc ngày khép lại, như thể sự biết như thế (nếu nó là sự biết) thì thực sự làm giảm bớt sự quẫn bách của ông. Sự hóa già, đó là những gì có thể là cho một điểm xuất phát, hao mòn và rách xé, những bộ phận cũ mòn chẳng thể thay thế. Hoặc sự vội vàng đi làm vào buổi sáng khi không ai quan tâm hoặc bị khiến rắc rối nếu ông đến muộn vài phút, và khi mà đôi lúc sự nỗ lực và lo lắng đã bỏ lại ông khó thở và đau nhức với cơn ợ nóng trong phần còn lại của ngày. Hoặc một tách trà tồi tệ mà ông đã tự pha trong nhà bếp dành cho nhân viên mà đã khiến lòng ruột của ông nổi bọt với chứng tiêu chảy phôi thai. Họ bỏ lại sữa ra ngoài trong một cái bình cả ngày, không đậy nắp, dồn tụ bụi và hít thở trong sự hư hoại mà họ đem đến nơi nó trong quá trình đi và về của họ. Ông đáng nên biết tốt hơn so với chạm vào sữa đó nhưng ông chẳng thể kháng cự sự quyến dụ của một ngụm trà. Hoặc đơn giản là ông đã tiêu tốn quá nhiều sự xuất lực kém thành thạo, nhấc nâng và đào xúc những thứ mà ông đáng ra nên để yên. Hoặc nó có thể là sự đau lòng. Ông chẳng bao giờ có thể biết điều đó khi nào sẽ đến, từ đâu hoặc trong bao lâu.
Nhưng khi ông ngồi trên xe buýt thì ông biết rằng một điều gì đó bất thường đang xảy ra với mình, một sự bất trợ đang dồn tụ mà khiến ông thút thít một cách vô tình, cái xác thịt trên thân thể đang nóng lên và đang co rút và một sự trống rỗng bất thân quen đang chiếm lấy. Nó xảy ra một cách không vội vã: hơi thở của ông thay đổi, ông run rẩy, toát mồ hôi, và thấy chính mình bị cuộn lên vào trong sự suy sụp thân quen đó của sự vất bỏ thuộc con người, cái thân thể đang mong chờ cơn đau, đang tan rã. Ông theo dõi chính ông bên cạnh chính ông, hơi bị hoảng loạn bởi sự tan rã quỷ quyệt, bất thể kháng cự của khung xương sườn, khớp hông và cột sống của ông, như thể thân thể và lí trí đang tách riêng chính chúng rời khỏi nhau. Ông cảm thấy một nhát đâm sắc nhọn trong bàng quang của ông và ý thức được rằng hơi thở của ông đang gấp gáp, hoảng loạn. Ngươi đang làm gì hử? Đang có sự lên cơn? Chứng cuồng xúc cảm đủ rồi, hãy hít thở sâu, hãy hít thở sâu, ông tự nhủ.
Ông bước xuống xe buýt trong nơi bầu không khí tháng Hai, một ngày của cơn lạnh đột ngột, rùng mình và yếu ớt, đang hít thở thật sâu như ông đã căn dặn chính mình. Ông chẳng được trang phục cho nó. Những người khác xung quanh ông đang mặc áo khoác len dày cộp, đeo găng tay và khăn quàng cổ, như thể họ đã biết từ thực tiễn và sự thân quen ra sao nó thực sự lạnh, điều mà ông chẳng biết, bất chấp nhiều niên sống nơi đây. Hoặc có thể, không giống như ông thì họ nghe các bản tin thời tiết trên TV và đài phát thanh, và khi ấy thì duy chỉ quá vui mừng để đi lấy về những bộ quần áo nặng nề mà họ cất trong tủ quần áo cho chỉ vừa những chủ đích như thế. Ông đang mặc cái áo khoác mà ông đã mặc trong hầu hết các tháng của niên, đủ để tránh mưa và sự ớn lạnh, nhưng không quá ấm khi thời tiết ôn hòa. Ông đã chẳng bao giờ có thể khiến chính mình chất đống quần áo và giày dép trong tủ cho những dịp và những mùa khác biệt. Đó là một thói quen của sự thanh đạm mà ông không cần thực hành nữa nhưng đã chẳng bao giờ có thể phá bỏ. Ông thích khoác mặc ra ngoài những bộ quần áo thoải mái cho ông, và thích suy nghĩ rằng nếu ông thấy chính mình đến gần thì ông sẽ nhận ra chính mình từ bộ quần áo ông mặc. Vào buổi chiều tối tháng Hai lạnh lẽo đó, ông đang phải trả giá cho sự điều độ của mình, hoặc sự keo cú, hoặc sự tu khổ hạnh, bất cứ gì nào nó là. Có lẽ đó là tính bất ngơi nghỉ của ông, cái thói quen của lí trí của một kẻ lạ bất hoà hợp với môi trường xung quanh mình, trang phục gọn nhẹ để ông có thể ném lìa cái áo khoác mau lẹ khi thời lúc đến để tiếp tục di chuyển. Đó là những gì ông suy nghĩ nó là, cái cơn lạnh. Ông đã trang phục không đúng cách, vì những lí do ngu ngốc của riêng mình, và cái cơn lạnh đang làm ông run rẩy mất kiểm soát, với sự run rẩy bên trong khiến ông cảm thấy rằng những mảnh gỗ trên thân thể của ông sắp nhường chỗ. Đứng ở trạm xe buýt, đang lúng túng chẳng biết phải làm gì thì ông nghe thấy chính mình rên rỉ, và hiểu rằng ông đang bắt đầu mất dấu các sự kiện, như thể ông đã ngủ gật trong giây lát và đã tỉnh dậy lần nữa. Khi ông bắt chính mình cử động thì tay và chân của ông chẳng còn xương cốt, và ông thở ra những tiếng thở dài trĩu nặng ngắn ngủn. Bàn chân của ông nặng nề và tê cóng, mở ra trong nơi những vết nứt nhức nhối của xác thịt đông cứng. Có lẽ ông nên ngồi xuống và đợi cơn co thắt qua đi. Nhưng không, ông sẽ phải ngồi trên vỉa hè và sẽ bị coi là kẻ vô thừa nhận, và ông có thể sẽ chẳng bao giờ đứng lên lại nữa. Ông bắt chính mình phải tiếp tục di chuyển, lần từng bước khó nhọc. Điều quan trọng bây giờ là phải đến nơi nhà trước khi ông cạn kiệt sức lực, trước khi ông ngã xuống trong hoang địa này, nơi mà thân thể của ông sẽ bị xé ra từng mảnh và bị phân tán. Việc bước bộ từ bến xe buýt về nơi nhà của ông thì thường chiếm lấy bảy phút, năm trăm bước hoặc xấp xỉ. Đôi khi ông đếm, để làm át đi cái tiếng om sòm trong đầu của ông. Nhưng vào buổi chiều tối đó thì chắc phải chiếm lấy lâu hơn. Nó cảm giác như thể nó đang chiếm lấy lâu hơn. Ông ngay cả không chắc liệu sức mạnh của ông sẽ bền lâu. Ông đã nghĩ ông vượt qua những con người ta, có lúc ông lảo đảo và phải dựa vào tường một ít phút, hoặc giây. Không còn có thể được để kể lể. Hàm răng của ông đang lập cập và ông đang toát mồ hôi rất nhiều vào lúc ông vươn đến cánh cửa và sau khi mở nó ra thì ông ngồi xuống ở hành lang, để cho cái nóng và cơn buồn nôn làm choáng ngợp ông. Ông chẳng thể lưu nhớ bất cứ gì trong một lúc.
Tên của ông là Abbas, và mặc dù ông chẳng biết về điều đó nhưng sự tiến vào của ông đã rất ồn ào. Maryam, vợ của ông đã nghe thấy ông đang lóng cóng với chùm chìa khóa và khi ấy nghe thấy tiếng ông sập mạnh cửa, khi mà thường luôn thì ông lặng lẽ lẻn vào. Đôi khi Maryam ngay cả còn chẳng biết rằng ông đã về nhà cho đến khi ông đứng trước mặt bà, mỉm cười vì ông đã bắt gặp bà lại ra ngoài. Đó là một trong những trò đùa của ông, khiến bà giật bắn mình, như bà luôn từng, vì bà chẳng đã nghe thấy ông bước vào. Chiều tối hôm đó, Maryam khởi đầu từ tiếng ồn của chùm chìa khóa trong cửa và cảm thấy một khoảnh khắc của niềm vui khá bình thường lúc ông về, và rồi tiếng sập mạnh cửa và bà nghe thấy tiếng ông rên rỉ. Khi bà đi ra nơi hành lang thì bà thấy ông đang ngồi trên sàn ngay bên trong cửa, hai chân mở ra trước mặt. Khuôn mặt của ông ướt đẫm mồ hôi, ông đang thở hổn hển và đôi mắt ông đang mở ra và nhắm lại trong sự rối lẫn.
Maryam quỳ xuống bên cạnh ông, nói ra tên ông: “Ôi không, Abbas, Abbas, điều gì vậy hử? Ôi không.” Bà nắm lấy bàn tay ướt nóng của ông trong tay bà. Đôi mắt ông nhắm lại ngay khi bà chạm vào ông. Miệng ông há mở khi ông gắng sức để lấy hơi, và bà thấy rằng bên trong ống quần cẳng chân của ông ướt sũng. “Em sẽ gọi xe cấp cứu,” bà nói. Bà cảm thấy bàn tay của ông hơi siết chặt trên tay bà, và khi ấy sau một lúc thì ông nói, rên rỉ: Không. Rồi thì thầm, ông nói: Hãy để anh nghỉ ngơi. Bà ngồi lui trên gót chân của mình và chờ đợi bên cạnh ông, hoảng hốt trước sự bất trợ của ông và chẳng biết phải làm gì. Thân thể ông phập phồng trong sự co thắt của cơn đau hoặc cơn buồn nôn, và bà nói ra tên của ông lần nữa, siết chặt lấy tay ông. Rồi sau một thời gian ngắn, bà bắt đầu cảm thấy sự kích động của ông giảm dần. “Anh làm gì rồi?” bà hỏi nhỏ, lẩm bẩm một mình, thì thầm với ông. “Anh làm gì rồi nơi chính mình?”
Khi bà cảm thức rằng ông đang cố đứng dậy thì bà đặt cánh tay của ông qua vai bà và giúp ông gắng sức lên cầu thang. Trước khi họ đến được phòng ngủ thì ông lại run rẩy, và Maryam đã nắm lấy sức nặng của ông và đẩy ông đi vài bước còn lại nơi cái giường. Bà vội vàng cởi trang phục ông, lau chùi ông những chỗ ông làm bẩn chính mình, và đắp phủ ông. Bà chẳng nghĩ tại sao cần phải cởi trang phục ông và làm sạch ông trước khi đắp phủ ông. Có lẽ đó chỉ là một bản năng về phẩm giá của thân thể, một phép lịch sự thừa mà bà đã không phản ánh. Khi ấy, bà nằm bên cạnh ông trên những tấm phủ trong khi ông rung lắc và rên rỉ, thổn thức lớn tiếng và nói: Không, Không, lặp đi lặp lại. Khi cơn run rẩy ngừng lại, và Abbas không còn thổn thức nữa, và ngay cả dường như đã ngủ thiếp đi, thì Maryam trở lại tầng dưới và gọi số khẩn cấp của phòng khám bệnh. Bác sĩ xuất hiện trong vòng vài phút sau cuộc gọi của bà, điều mà bà chẳng đã hề mong chờ. Bác sĩ là một phụ nữ trẻ mà Maryam chưa từng gặp tại phòng khám bệnh trước đây. Cô vội vã bước vào, tươi cười và thân thiện, như thể không có chuyện gì khác thường đáng sợ xảy ra. Cô đi theo Maryam lên lầu, liếc về phía Abbas rồi nhìn quanh tìm chỗ để đặt túi xách của mình. Mọi cử động của cô đều được cân nhắc và dường như đang bảo Maryam đừng hoảng loạn, và bà đã cảm thấy chính mình đang trở nên bình tĩnh hơn khi có bác sĩ ở đây. Bác sĩ khám cho Abbas, bắt mạch, nghe nhịp thở của ông bằng ống nghe, kiểm tra huyết áp, chiếu đèn vào mắt, lấy mẫu nước tiểu và đặt vào đó một tờ giấy quỳ. Khi ấy, cô hỏi ông những câu hỏi về những gì đã xảy ra, lặp đi lặp lại những câu hỏi của cô nhiều lần cho đến khi ông đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Giọng nói và cung cách của cô nhã nhặn và ân cần thay vì quan ngại, và cô ngay cả còn tìm thấy thời gian để chia sẻ một nụ cười với Maryam khi họ thảo luận về những gì cần phải làm tiếp theo, hàm răng trắng bóng và mái tóc vàng sẫm của cô sáng rực trong ánh đèn phòng ngủ. Ra sao người ta dạy họ để làm điều đó? Maryam đã hiếu kì. Ra sao người ta dạy họ để xử lí các thân thể bị thương với sự bảo tín bình tĩnh như vậy? Như thể cô đang thương thảo với một chiếc radio bị hỏng.
Vị bác sĩ đã gọi một xe cấp cứu, và tại bệnh viện, họ bảo Maryam rằng Abbas đã chịu đựng cơn khủng hoảng của bệnh tiểu đường, hôn mê ngắn nhưng đủ nghiêm trọng. Họ bảo ông rằng đó là bệnh tiểu đường khởi phát muộn, mà xảy ra nơi mọi người khi họ cao niên. Bình thường thì có thể điều trị được, nhưng do ông chẳng biết mình mắc bệnh và ông chẳng đã nhận sự điều trị nào nên ông đã phát triển một cơn khủng hoảng. Vẫn còn quá sớm để nói đầy đủ sự xúc hại có thể đã gây ra. Có bệnh tiểu đường trong gia đình của ông chứ? Cha mẹ của ông, chú bác hoặc cô dì của ông? Abbas nói rằng ông chẳng biết. Khi vị bác sĩ chuyên khoa khám cho ông vào ngày hôm sau thì vị ấy nói rằng bệnh tiểu đường không nguy hiểm đến tính mạng nhưng rằng xét theo phản ứng vận động của ông thì ông chắc hẳn đã chịu đựng sự xúc hại não. Không cần để báo động. Ông có thể lấy lại những chức năng nào đó đã mất hoặc có thể không. Thời gian sẽ trả lời. Ông cũng đã bị đột quỵ nhẹ. Việc kiểm tra thường xuyên sẽ làm sáng rõ điều kiện và sự điều trị của ông, nhưng trong thời gian chờ đợi thì ông sẽ nán lại dưới sự theo dõi trong bệnh viện thêm một ngày nữa và nếu không có sự cố gì thêm thì ông có thể về nhà. Ông đã được cấp phát một danh sách dài những điều nghiêm cấm, được cho uống thuốc và được hướng dẫn nghỉ ốm từ công việc. Khi ấy ông sáu mươi ba tuổi, mặc dù đó chẳng phải là tất thảy.
Maryam gọi điện cho các con của họ là Hanna và Jamal. Bà kể cho chúng nghe về những gì đã xảy ra, đi vòng vo với sự trấn an của bà để chúng khỏi vội vàng về nhà. Nếu không có những sự kiện thêm nữa thì ngày mai ông sẽ về nhà, bà bảo chúng. “Mẹ ý muốn nói gì những sự kiện?” Hanna hỏi. “Đó là những gì bác sĩ nói, nếu không có những sự kiện thêm nữa,” Maryam trả lời. Bà đang lấy tín hiệu từ ban nhân viên bệnh viện, những người mà dường như muốn giữ mọi thứ bình tĩnh, vậy thế có lẽ điều đó là tốt nhất cho Abbas, và việc Hanna và Jamal vội vã về nhà thì sẽ chỉ kích động ông một cách không cần thiết. Chính bà làm việc trong một bệnh viện, và biết rằng con người ta đôi khi kêu toáng quá mức về những người thân bị bệnh của họ. “Họ đang điều trị cho bố bây giờ. Họ nói rằng bố ổn định. Không, không cần phải thốc vội xuống. Bố sẽ không đi đâu cả. Tất nhiên các con có thể đến gặp bố bất cứ lúc nào, nhưng không cần phải thốc vội. Hãy đến khi các con muốn. Bố ổn thôi bây giờ. Họ đang điều trị cho bố. Không, bố sẽ không cần phải tiêm mỗi ngày, Jamal à. Bố làm thế vào lúc này, nhưng chẳng cho dài lâu hơn. Bố sẽ uống thuốc và tuân theo một chế độ ăn riêng và sẽ có nhiều thứ khác nhau mà mẹ phải kiểm tra thường xuyên. Giống như gì ư? Ồ, những vết cắt và những vết trầy trên bàn chân của bố, đường huyết, và những thứ khác. Họ sẽ dạy mẹ tất thảy về nó. Bố sẽ ổn thôi. Bố sẽ mất một thời gian để mạnh mẽ trở lại. Đừng lo lắng, bố sẽ ổn thôi. Vâng vâng, hãy đến và gặp bố sớm.”
Sự nhuốm bệnh đã bỏ lại Abbas kiệt sức. Ngay cả những nỗ lực nhỏ cũng làm ông run rẩy và đổ mồ hôi, và làm ông thút thít với sự bực nản. Ông ngay cả chẳng thể ngồi dậy nếu không có sự trợ giúp. Ông luôn đói nhưng thức ăn khiến ông buồn nôn. Nước bọt của ông có vị độc và miệng ông có mùi như cống rãnh. Khi ông bắt chính mình để nuốt thức ăn thì ông đã nghẹn và oẹ ra. Một y tá thuộc đội tiểu đường của bệnh viện đã đến thăm và giải thích cho ông (và cho Maryam) ra sao ông cần để chăm sóc chính mình. Cô đặt xuống cái luật lệ và trao cho họ những cuốn sách nhỏ và lời khuyên, trước khi càu nhàu lối đi ra của cô lần nữa. Ông ngay cả còn kiệt sức hơn sau khi cô rời đi. Sau vài ngày, ông vẫn chẳng thể bước bộ một ít bước vào phòng tắm mà không có sự trợ giúp, và khi bà rời cái ngôi nhà thì Maryam phải đem cho ông một cái xô nhựa và đặt nó bên cạnh giường trong trường hợp khẩn cấp. Ông phải sử dụng nó một lần, và ông đã ngồi trên cái xô đó như một trẻ sơ sinh, rên rỉ và than van khi thân thể của ông phì phò và vọt nước, làm ông xấu hổ sau một cuộc đời của sự lãng phí và những điều dối trá. Rồi khi ông đi xong thì ông chẳng thể làm sạch chính mình đúng cách, chẳng thể gội rửa chính mình như ông thường làm. Ông đã chẳng bao giờ quen với việc làm sạch chính mình bằng giấy, vẫn còn cảm thấy bị vấy bẩn sau đó, và bây giờ ông phải quay trở lại giường với cảm giác như thể cái mông của mình bị kết vảy với chất thải khô. Đôi khi ông trôi dạt xa khỏi, vào trong giấc ngủ hoặc xa khỏi bến neo của mình, vào trong những nơi sâu thẳm im lặng mà ông chẳng thể không quay trở lại, mà ông ghét quay trở lại. Ngay cả trong cơn mê mụ thì ông cũng biết rằng ông đã bỏ lại mọi thứ quá lâu, như khi ông đã biết trong nhiều niên. Có nhiều thứ lẽ ra ông đã nên nói, nhưng ông đã để cho sự im lặng định toạ cho đến khi nó trở nên bất động. Có những lúc ông nghĩ rằng ông đã đi rồi, rằng ông đã ở ngoài tầm với, đang treo dính nơi một sợi dây mỏng đang tháo ra từ một ống chỉ trong khi ông từ từ tan rã. Nhưng ông đã không đi và ông tỉnh lại, và ông lưu nhớ lại giấc mơ đó mà ông đã có rồi đôi lần khi ông làm việc trên biển, treo dính nơi một đoạn dây khi thân thể ông tan rã trong sự thốc vội của nước.
Khi ông bắt đầu khỏe hơn thì ông trở nên dễ cáu kỉnh, đặc biệt là với sự tàn rũ của chính mình, nhưng điều đó lại bộc lộ ra từ những ngôn lời gắt gỏng mà ông nói với Maryam. Những ngôn lời làm tổn thương bà nhưng ông chẳng thể kìm được mình. Đôi khi ông chẳng thể chịu đựng được khi bà vào phòng, nói chuyện phiếm với ông, kêu toáng lên loanh quanh trong tủ quần áo hoặc trong chiếc bàn của bà cạnh giường, trông tìm gì đó, đặt lòng bàn tay lên trán ông, nhấc ông lên để thay những chiếc gối, đem tới cho ông chiếc radio từ nhà bếp. Hãy bỏ lại tôi một mình. Hãy ngừng kêu toáng. Đôi khi ông chẳng thể chịu đựng nổi lúc bà không ở đó, lúc bà ở một nơi khác trong khi những giọt nước mắt của sự thương xót chính mình và sự kinh tởm chính mình đã trượt xuống khuôn mặt ông. Tôi chẳng thể mang chịu điều này. Tôi chẳng thể mang chịu điều này thêm nữa. Ông là một lữ khách đầy lỗi đạo sa ngã nhuốm bệnh ở một vùng đất xa lạ, sau một cuộc đời vô dụng như cuộc đời có thể. Việc nói chuyện đã làm tổn thương ông, nó khiến ông đau trong lồng ngực, và ông quá mệt mỏi để giải thích. Những ngôn lời của ông không làm nên cảm thức, ông có thể thấy điều đó trong sự bất lĩnh hội trên khuôn mặt của bà. Ông chẳng thể khiến chính mình nói những ngôn lời sao cho chúng làm nên cảm thức. Ông muốn được bỏ lại một mình, nhưng khi ông cố để bảo Maryam điều đó thì ông chỉ thốt ra lắp bắp lời nhiếc móc và chẳng thể ngăn mình khỏi khóc.
Nhưng ông đang trở nên mạnh mẽ hơn. Ông có thể tự mình đi xuống cầu thang và trở lại tầng trên khi ông cần, mặc dù điều đó chiếm lấy ông lâu hơn. Ông đã có thể giữ thức ăn xuống và làm quen với chế độ ăn riêng mới, mà ông chẳng thấy điều đó gay go, ngoại trừ việc mất muối và đường. Ông sẽ có thể tự chăm sóc mình, ông bảo bà thế. Đã đến lúc bà phải quay lui nơi làm việc. Ông không phải là một kẻ tàn phế, chỉ là một chút yếu đau. Miễn là ông có thời gian thong thả thì ông sẽ ổn. Thật nhẹ nhõm khi bà trở lại nơi làm việc sau ba tuần, ngay mặc dù điều đó bỏ lại ông ngày dài im lặng nơi chính mình. Ông đã cố để đọc nhưng khả năng tập trung của ông kém, và việc nỗ lực để cầm lên một cuốn sách thì thật mệt mỏi. Ông đang trở nên mạnh mẽ hơn, và khi ông đủ khỏe thì ông sẽ nói chuyện với Maryam về tất thảy những điều ông đã giữ khỏi bà.
(còn tiếp)